Vinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo SliderVinaora Nivo Slider

 

An  Lạc – Quê hương của đồng bào dân tộc miền Đông Bắc

 
      Khe Rỗ không chỉ đẹp ở nét hoang sơ hùng vĩ của núi rừng Đông Bắc mà còn vô cùng hấp dẫn dịu dàng với những nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nơi đây. Bao đời nay người dân An Lạc sống mạnh mẽ kiên cường như cây như núi, mà cũng thật giàu tình cảm như suối như sông. Mảnh đất màu mỡ này là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng chiếm đại đa số vẫn là dân tộc Tày và dân tộc Dao.
      Đến với xã An Lạc tỉnh Bắc Giang và tham gia chương trình du lịch khám phá rừng Khe Rỗ, quý khách sẽ có cơ hội tham quan bản Nà Ó xinh đẹp của người Dao và khám phá những bản  nằm sâu trong núi của người Tày. Cả hai dân tộc này đều có những tập tục và nét văn hóa riêng biệt độc đáo như men rượu làm say lòng du khách khi ghé thăm. 
     Dân tộc Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, đây cũng là một trong những nhánh tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Nhóm ngôn ngữ này kéo dài thành một vệt từ miền Nam Trung Quốc đến Việt Bắc, Tây Bắc của Việt Nam, sang Lào, Thái Lan qua Mianma, thậm chí đến tận Ấn Độ cũng có một nhóm tộc người San, thuộc ngữ hệ Tày-Thái. Ở xã An Lạc, họ thường sống ở vùng thung lũng bằng phẳng, màu mỡ nhiều sông suối, nơi thuận tiện đánh bắt cá và làm ruộng. Nguồn sống chính của người Tày là nông nghiệp, ruộng nước. Nền nông nghiệp Tày đã phát triển tương đối cao. Ngoài lúa nước là cây lương thực chính, đồng bào còn trồng thêm ngô, khoai, sắn và các loại cây thực phẩm khác và thuốc lá trên những nương định canh. Đó cũng là nguồn thu nhập quan trọng của đồng bào Tày.
    Việc trồng bông dệt vải và nuôi tằm từ lâu đã phát triển, không những đáp ứng nhu cầu của từng gia đình, mà còn được bán ở những chợ tại địa phương. Ngoài ra, đồng bào còn chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, heo, gà, dê trở thành nguồn thu nhập phụ có giá trị kinh tế cao. Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối. Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà. Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ. Đồng bào Tày thường sống quần tụ thành từng bản. Mỗi bản có từ hai mươi đến một trăm nóc nhà. Nhiều bản hợp lại thành một mường tương đương với một xã. Bản (làng) của người Tày được xây dựng ở những chân núi hoặc những nơi đất đai bằng phẳng ven sông, suối, trên các cánh đồng. Nhiều bản (làng) có lũy tre xanh bao bọc xung quanh. Tính cộng đồng của bản (làng) xưa kia đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống, đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc Tày... 
 
   
Những người phụ nữ dân Tộc Tày 
 
    Gia đình người Tày thường quí con trai hơn và có qui định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà. Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly hôn. Đã từ lâu không còn tục ở rể. Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng. Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại. Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ. Người Tày thờ tổ tiên và bái vật giáo. Bàn thờ tổ tiên của người Tày đặt chính giữa nhà và làm thành một không gian riêng và được cung kính hết mực. Khách và phụ nữ trong nhà chửa đẻ không được phép ngồi hay nằm trên ghế, giường trước bàn thờ. Họ thường dùng bữa sau 2 giờ chiều và 8 giờ tối. Trong tôn giáo của người Tày, ngày 3/3 âm lịch là ngày tảo mộ, ngày lễ quan trọng nhất của người Tày.
Hát then, hát lượn, hát sli là các thể loại dân ca nổi tiếng của người Tày, được dùng vào các mục đích sinh hoạt khác nhau. Họ dùng bộ nhạc cụ gồm đàn tính, lúc lắc. Những nhà truyền thống thường là nhà sàn, nhà đất mái lợp cỏ gianh và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ. Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng. Phổ biến là loại nhà đất 3 gian, 2 mái (không có chái), tường trình đất hoặc thưng phên nứa, gỗ xung quanh, mái lợp cỏ tranh, ngói âm dương hoặc tấm Prôximăng. Bố trí mặt bằng sinh hoạt được quy định thống nhất qua từng vị trí trong ngôi nhà.
 
 
Nhà người Tày
   
    Về những yếu tố tích cực được thể hiện trong văn học - nghệ thuật dân gian, trước hết đó là loại truyện cổ thường đề cập đến nguồn gốc của những hiện tượng tự nhiên, xã hội, lịch sử, tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn những người đã có công với làng xóm, quê hương, đất nước, và nêu cao tinh thần đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau, hoặc lên án những bất công trong xã hội đương thời. Nhiều truyện cổ, ca dao, dân ca, nêu cao vai trò của lao động, ngợi ca nhân nghĩa, lòng chung thủy và đề cao tài năng, trí tuệ của con người. Hàng năm người Tày có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
 
Người Tày trong một chương trình văn nghệ hát Then - đàn Tính
 
    Tết Nguyên đán là mở đầu cho một năm mới và họ bắt đầu ăm tết từ ngày 28 tháng chạp âm lịch. Những ngày này trai gái trong bản lại khẩn trương trang trí lại nhà cửa, quét dọn sạch sẽ và sắp xếp lại đồ đạc trong nhà để cho gian nhà thêm mới mẻ và ấm cúng hơn. Bước sang ngày 29 người Tày bắt đầu làm thịt lợn và chế biến ra những món ăn như: giò, chả, thịt luộc, thịt nướng và lạp sườn,... Nếu ngày này ai đó có dịp đến với vùng cao sẽ thấy nhà nào cũng treo những dây lạp sườn trong bếp trông thật hấp dẫn. Đến ngày 30 tết thì người Tày cất tất cả những đồ dùng trong nhà như: dao, dựa, cày, bừa vào một nơi rồi làm lễ cúng để cho chúng nghi ngơi ăn Tết, vì theo đồng bào nơi đây những vật dụng đó đã gắn bó và theo người dân suốt một năm. Đêm giao thừa là dịp mà các thành viên trong gia đình quây quần bên nhau để trò chuyện, cùng nhau thưởng thức những món ăn đặc biệt hơn ngày thường và chúc nhau những lời chúc năm mới hạnh phúc, thịnh vượng. Chuẩn bị đón tết còn là dịp cho trai, gái trong bản rủ nhau xuống chợ mua sắm cho mình những bộ quần áo mới nhất để đi chơi xuân. Ngày tết cũng là cơ hội để cho cả người già, trẻ em, thanh niên nam nữ kéo nhau đi xem các lễ hội vui xuân như: Tung còn, múa xòe và trao cho nhau những điệu hát Sli, hát lượn thật hay thật tình tứ.
    Người Tày có đặc trưng riêng về phong cách thẩm mỹ. Họ thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm. Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hoà Bình).
    Có những điều kiêng kị trong cộng đồng người Tày như không đặt chân lên khúc củi đang cháy trong bếp lửa hay đặt chân lên thành bếp. Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ không được nhìn vào gia súc, gia cầm. Người mới sinh con không được đến chỗ thờ tổ tiên. Khi đun nấu đồng bào Tày đều chú ý đặt quai ninh, chảo, nồi lên bếp không được để hai quai nồi, chảo theo hướng cây xà ngang (vì đó là hướng nằm của người chết) mà phải đặt theo hướng đòn nóc nhà. Người Tày nơi giáp cửa sổ gia chủ đặt hai chén con có ý giành cho tổ tiên về tiếp khách, khách không ngồi ở vị trí đó. Trong cuộc sống thường ngày, con cái có nhỡ đánh rơi vỡ bát hay chén, người lớn không dám đánh chửi con mà chỉ nhẹ nhàng: "Nào, thế là mình được bát chén mới rồi!" vì đánh chửi con sợ phạm vào giờ "xích khẩu". Trong cuộc sống vợ chồng rất ít cãi nhau, hoặc đánh chửi, do vậy tình trạng ly hôn rất hiếm. Cũng có trường hợp, vợ chồng, con cái do nhiều yếu tố dẫn đến xích mích cao độ dám chửi thề sẽ dẫn tới gia đình lục đục, làm ăn mùa màng thất bát, ốm đau triền miên, hao tài tốn của. Lẽ đương nhiên, nếu gia đình không hòa thuận thì sẽ ông chằng bà chuộc, chẳng ai nghe ai, ốm đau tự đến, vật nuôi, của Người Tày rất kiêng nói to, va đập mạnh, chửi nhau nơi khuôn bếp để đun nấu. Vì họ coi khuôn bếp là nơi có Vua bếp, Táo quân, là ngưỡng cửa dẫn đến Ngọc Hoàng. Vì sợ bị "xích khẩu" (Pác vàm) nên từ già chí trẻ luôn khuyên nhau nói năng nhẹ nhàng, từ tốn trên dưới, bớt giận làm lành. Từ xưa đã lưu truyền câu: "Mười nước dồn thành nước hẵng trôi", "Mười lần dồn một lần hẵng giận" (Sếp nặm sỏn hắt nặm Coòi luây, Sếp pày sỏn hắt pày Coòi náu). Trong bản, một người gặp ốm đau, hoạn nạn thì cả bản Mường cùng biết, cùng lo giúp đỡ. Đó là đạo nghĩa xóm giềng đã có từ ngàn xưa. Còn những người hay chửi bới, nếu chẳng may lúc cả giận đã chửi thề nguyền thì khi ốm đau hoạn nạn, những loại thuốc thông thường chữa không khỏi được là phải nhờ thầy tạo đến giải lời nguyền. Bị nhẹ thì làm lễ cởi nút (kẻ khót).
    Người Dao Đỏ có nguồn gốc từ Vân Nam - Trung Quốc, người Dao Đỏ là một bộ phận nhỏ của tộc người Dao di cư vào Việt Nam từ thế kỷ XIII đến những năm 40 của thế kỷ trước. Họ sống tập trung đông nhất ở các xã Tả Phìn, Nậm Cang, Thanh Kim, Suối Thầu, Trung Chải. 
Theo các nhà nghiên cứu thì người Dao có quan hệ mật thiết với người H'mông. Trước đây hai nhóm này được cho là có cùng nguồn gốc nhưng mỗi nhóm có một đặc điểm riêng biệt. Trong khoảng thời gian thiên di từ Trung Hoa vào Việt Nam thì hai cộng đồng dân tộc này đã hình thành nên những đặc điểm khác nhau. 
 
Dân tộc Dao
 
    Nếu người H'Mông thường chọn những nơi núi cao để sống thì người Dao lại chọn thung lũng hoặc lưng chừng núi để trỉa ngô, trồng lúa và thảo quả. Các lái buôn thường đến tận nhà thu mua mang bán sang Trung Quốc nên cuộc sống của họ được nâng cao. Nhiều nhà có những tiện nghi và phương tiện tốt như xe máy, tivi, thậm chí là cả ô tô, máy kéo dùng trong nông nghiệp.
    Tộc người Dao có nhiều nhóm nhưng sinh sống ở An Lạc chủ yếu là người Dao Đỏ. Người Dao có tín ngưỡng rằng loài chó là tổ tiên của họ nên chó luôn luôn được quý trọng, người đàn ông thì chỉ được coi là trưởng thành khi đã chịu lễ cấp sắc. Ngoài ra họ cũng có nhiều tục lệ đặc biệt như là gia đình nào đang nấu rượu thì phải cắm lá trước cửa nhà, không cho người lạ vào vì đồng bào quan niệm rằng người lạ vào nhà rượu sẽ bị chua và khê, nên khi thấy có dấu hiệu cắm lá kiêng bạn không nên bước vào nhà. Trong gia đình có phụ nữ sinh nở cũng có dấu hiệu kiêng cắm lá trước cửa nhà, để không cho người lạ vào nhà, sợ đứa trẻ mới sinh khóc nhiều.
    Họ cũng có tục kiêng sờ đầu trẻ em, khi cắt tóc, cạo đầu họ vẫn để chỏm tóc ở đỉnh đầu vì cho đó là nơi trú ngụ các hồn vía con người, quan niệm để chỏm tóc như vậy trẻ em sẽ không hay ốm đau. Họ cũng quan niệm là nam và nữ khi chưa kết hôn thì không được chụp ảnh cùng nhau vì như vậy là không tốt, có thể nói đó là một điều cấm kỵ đối với phụ nữ Dao. Người cầm máy ảnh nếu muốn chụp tốt nhất là nên xin phép họ trước.
    Trong năm người Dao cũng có những lễ hội đặc sắc như là Tết nhảy tổ chức vào ngày mồng một và mồng hai tháng giêng, hội hát giao duyên vào ngày mồng mười tháng giêng. Dân tộc này có bài thuốc tắm lá cây rừng của tổ tiên người Dao Đỏ còn truyền lại đến ngày nay rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi.
    Cộng đồng người Dao và người Tày đều có những nét đẹp văn hóa riêng khó trộn lẫn mà du khách có thể cảm nhận ngay được từ những bước chân đầu tiên đến với xã An Lạc, tỉnh Bắc Giang. Hãy cùng Vietlines trải nghiệm những nét đặc sắc về thiên nhiên và văn hóa nơi đây với chương trình tour du lịch khám phá tại Khu du lịch sinh thái Khe Rỗ.
 
Book Home Stay

Book Home Stay

Tên (*)
Bạn chưa nhập họ tên.
Địa chỉ (*)
Invalid Input
Điện thoại (*)
Bạn chưa nhập điện thoại.
Quốc gia
Invalid Input
Yêu cầu khác
Invalid Input